1.1 Chén Thiên Mục là gì?
Chén Thiên Mục ( còn gọi là Kiến Trản) là một trà cụ dùng để uống trà. Chén Thiên Mục được tạo với một quy trình khá đặc biệt. Chén được tráng một lớp men có thành phần kim loại và được nung với nhiệt độ từ 1000oC trở lên. Cũng tùy thuộc vào kim loại có trong men và nhiệt độ nung mà mỗi chiếc chén sẽ có họa tiết hoa văn khác nhau.
1.2 Lịch sử phát triển của chén Thiên Mục
Chén Thiên mục (còn có tên là chén Kiến Trản) có nguồn gốc từ huyện Kiến Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến – Trung Quốc . Đây là loại chén uống trà được chế tác tại Trung Quốc vào năm trước những năm 960.
Mãi đến năm 1333, chén Thiên Mục mới thực sự được nhiều người biết đến bởi một trong các nhà sư người Nhật Bản đến Trung Quốc và lan rộng. Vị nhà sư này đã đặt tên cho loại chén này dựa vào một ngọn núi ở Phúc Kiến.
Tuy nhiên, theo ghi chép của các nhà sử học và khảo cổ học, chất men Thiên Mục được tìm thấy tại Kamakura (1192 – 1333). Ghi chép này được cho là khá đúng, bởi vì cùng thời điểm này là vào thời nhà Tống (1127-1279) ở Trung Quốc. Cũng theo sách sử ghi lại, lúc này có rất nhiều nhà sư Nhật Bản sang Trung Quốc vừa để học giáo lý Phật pháp vừa để nghiên cứu văn hóa thưởng trà.
Sau khi kết thúc khóa học và trở về nước, các vị sư này đã mang theo chén Kiến Trản về quê hương. Người dân và các con buôn tại Nhật vô cùng ấn tượng về loại chén này. Do cầu tăng nên họ dần mở rộng buôn bán và chén Kiến Trản trở thành một xu hướng của giới thượng lưu.
Trung Quốc được xem là “cái nôi” của những tác phẩm nghệ thuật, trong đó không thể không kể đến những món đồ thủ công mỹ nghệ. Sở dĩ các loại chén của Trung Quốc vô cùng đắt đỏ bởi vì nơi đây có nguồn tài nguyên đất khoáng dồi dào và quý hiếm.
Các chế tác được điêu khắc tinh xảo, chính xác từ màu sắc, chất liệu và hoa văn. Điều này vô tình đã đưa được giá trị của mỗi chiếc chén lên tầm cao mới. Giới thượng lưu ở mọi thời đại từ trước đến nay luôn có những đánh giá cao cho các món đồ này.
2. Các loại men chén Thiên Mục
- Chén Du Trích (Giọt Dầu): được làm từ loại men Thiên Mục có đốm loang màu trắng hoặc nâu thường có hình giọt dầu bị bắn, đôi khi có hình vệt sơn chảy dài. Chén có màu nâu đỏ, màu đen bạc hoặc cũng có thể kết hợp với nhiều nguyên tố kim loại khác để cho ra màu sắc khác nhau.
- Chén Thố Hào (Lông Thỏ): có nhiều đường gân xen kẽ trên nền đen do nhiệt độ nung củi cao hơn với các loại khác làm các phần tử kim loại vừa nổi lên và kéo thành sợi. Các vệt này do nóng chảy thành đường dài và nổi li ti trên mặt chén, có hình dạng như lông thỏ.
- Chén Hoả Biến: làm từ loại men Thiên Mục có màu nâu đỏ như lửa. Đây là 1 trong những loại men Thiên Mục được ưa chuộng nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Sở dĩ, chén từ men Hỏa Biến có màu nâu đỏ là hàm lượng oxit sắt rất cao (12-20%) có trong lớp men làm nên Hoả Biến.
- Chén Trà Diếp Mạt: là loại men Thiên Mục có những chấm nhỏ li ti như cám. Men Trà Diếp Mạt ra đời vào thời nhà Đường (618-907) và các lò gốm ở Hiệp Tây và Hà Nam chế tác. Tuy nhiên loại men này gần 10 thế kỷ đã bị thất truyền và được hồi phục dưới thời vua Ung Chính (cha của Càn Long) của nhà Thanh (1644-1912).
- Chén Mộc Diếp: là men Thiên Mục có hình chiếc lá trong lòng chén. Những loại men Thiên Mục khác thường có các đường nét hay hình thù đặc biệt do có thành phần kim loại trong men. Còn chén Mộc Diếp sẽ có hình chiếc lá bởi vì khi tráng men người chế tác gốm sẽ cho một chiếc lá vào.

